Truyện thần Ornn: Quỷ khổng lồ và cánh cửa cừu (chương 4)

Ai cũng biết là không nên thi uống với một con quỷ khổng lồ nhỉ? Kể cả đám nhỏ các cháu cũng biết là không nên cá cược với quỷ khổng lồ, bởi chúng thật ranh ma và luôn giành chiến thắng. Hơn nữa, ai ở Freljord cũng biết quỷ khổng lồ càng xấu xí thì càng may mắn và tinh quái.

Không may, Ornn chẳng biết gì cả.

Grubgrack Xấu Xí là con quỷ khổng lồ già đời nhất trên thế giới. Lông ngực lão dài đến nỗi quấn cả vào những ngón chân xù xì. Ui! Lão thường vấp phải chúng và bị gãy mũi, cái mũi đã sưng u và vặn vẹo vì bị gãy quá nhiều lần. Lão chỉ còn hai cái răng, một con mắt kèm nhèm, và một con mắt còn kèm nhèm hơn. Mụn nhọt mọc khắp bụng lão. Ta sẽ không tả cho các cháu biết lão có mùi gì đâu. Nếu thế, các cháu sẽ không bao giờ đụng đến món cá hầm lên men nữa.

“Hãy làm cho ta một cánh cửa giữ kho tàng của ta mãi mãi an toàn trước bọn trộm cắp,” Grubgrack nói với Ornn bên ngoài Tổ Ấm, “và ta sẽ cho ông mười thùng rượu quỷ. Công thức gia truyền đấy.”

Ornn đuổi khách, nhưng Grubgrack lấy chân chẹn cửa. Ornn không muốn mấy ngón chân sưng tấy của con quỷ khổng lồ làm hỏng lớp sơn, nên ông để lão vào.

“Chúng ta đánh cược đi,” con quỷ khổng lồ xấu xí cùng cực nói. “Ai uống cạn một thùng rượu quỷ trước sẽ nợ người kia một việc.”

“Nếu làm thế mà ngươi biến đi thì được,” Ornn chưa bao giờ bị đánh bại trong một cuộc thi uống. Từ trước đến giờ ai cũng biết, và giờ tới các cháu đó.

“Ít nhất thì uống rượu cũng vui mà,” Grubgrack đáp, nụ cười của hắn khiến một cây trụ của Tổ Ấm cong đi. Khi Ornn quay lưng đi, con quỷ khổng lồ thả một mảnh Chân Băng vào thùng rượu và đưa nó cho đối thủ.

Họ nâng cốc theo cung cách vui vẻ của Freljord và uống. Ornn thấy rượu quỷ nhạt dần, và ông không thích điều đó. Tuy nhiên, Grubgrack đã uống hết nửa thùng. Khi thùng của ông rượu vẫn ngấp nghé miệng, Ornn ngửa cổ dốc ừng ực, cho đến lúc ông nghĩ mình sẽ chết chìm mất.

Nhưng Grubgrack dộng cái thùng rỗng xuống và ợ một tiếng, và ngọn lửa trong bếp lửa chuyển màu xanh bệnh hoạn! Ornn ho và phun phì phì.

“Sao thế?” Grubgrack trêu chọc. “Ông bị sặc hả?”

Rồi Ornn nhận ra mẩu Chân Băng bên trong. Nó không ngừng chảy ra và pha loãng món rượu quỷ. Ông có uống bao nhiêu thì Chân Băng cũng bồi lại cho đầy. Chỉ dùng một tay, ông đập nát thùng rượu.

“Ngươi gian lận,” Ornn nói. Giọng ông giận dữ như cơn động đất nhấn chìm vài hòn đảo.

“Tất nhiên! Một con quỷ khổng lồ xấu xí như ta có lợi thế gì khác trước Ornn hùng mạnh chứ?” Thật ra, lũ quỷ khổng lồ xấu xí có đủ mọi lợi thế trên đời, nhưng Ornn không dành nhiều thời gian với lũ quỷ khổng lồ xấu xí, nên ông không biết điều đó, nhưng giờ các cháu biết rồi đấy. “Giao kèo là giao kèo,” Grubgrack nhắc nhở ông.

“Lời nói của ta chắc như Búa,” Ornn càu nhàu. “Dù có bị lừa đi nữa.”

Thế là Ornn bỏ mười ngày làm ra một cánh cửa tốt nhất từ trước đến giờ. Ông trang trí nó bằng một cái đầu cừu, nhưng chính ông, và như con cừu ở trong lòng Freljord. Nó không thể bị suy suyển bởi ma thuật cũng như lũ bẻ khóa. Grubgrack ấn tượng trước chất lượng của cánh cửa đến nỗi không thốt nổi câu nào, điều cực kỳ hiếm thấy ở lũ quỷ khổng lồ.

Ornn gắn chặt cánh cửa vào trước hang của con quỷ khổng lồ, nằm trên một ngọn núi cao, nơi tất cả lũ quỷ khổng lồ xấu xí trong lịch sử chôn giấu kho tàng của chúng.

Làu bàu, Ornn lùi lại, để Grubgrack chiêm ngưỡng cánh cửa mới.

Khi định thần lại, Grubgrack nhận ra đã một ngày kể từ lần cuối lão đếm vàng, và lão ngày một lo lắng. Nhưng lão không tìm ra cách nào để mở cánh cửa! Không cách nào cả.

Grubgrack cố dùng sức. Cánh cửa với đầu cừu không lay chuyển. Thế là, hắn cố lột bỏ lớp sơn với hơi thở hôi thối của mình. Lại một lần nữa, cánh cửa không lay chuyển. Cuối cùng, hắn cố cạy bản lề khỏi vách hang nhưng, than ôi, cánh cửa gắn vào ngọn núi chặt đến nỗi con quỷ khổng lồ chỉ thấy đau vai khi cố huých nó lỏng ra. Lão đã bị khóa cứng bên ngoài.

Grubgrack chạy xồng xộc đến lò rèn của Ornn. “Trò gì thế này?” lão gào lên. Hơi thở của lão thật khủng khiếp, khiến lửa lò chút nữa tắt ngúm.

“Chẳng có trò gì cả,” Ornn đáp, thổi bùng lại ngọn lửa. “Ngươi bảo ta làm một cánh cửa có thể giữ kho tàng của ngươi mãi mãi an toàn khỏi lũ trộm cắp, và ta đã làm thế. Cánh cửa sẽ đứng vững còn lâu hơn cả ngọn núi. Không ai phá được nó. Ta làm y như ngươi yêu cầu.”

“Nhưng ta không vào trong được!” Grubgrack hét lớn. “Và ta chẳng trộm gì của ngươi cả!”

“Thời gian đáng giá hơn vàng bạc,” Ornn nói. “Vậy nên ngươi là kẻ trộm, và tác phẩm của ta cũng chắc chắn như lời nói của ta vậy.”

Grubgrack cố gắng nhiều năm trời để vào được kho tàng của hắn, nhưng cánh cửa chẳng bao giờ xê dịch, và hắn còn không tìm nổi lỗ khóa. Sau mỗi lần thử, cánh cửa đầu cừu lại ngó lại hắn, như một lời nhắc vĩnh hằng về lần hắn gian lận với Ornn.

Và nếu các cháu lắng tai, tít trên dãy núi cao, các cháu có thể nghe thấy lão Grubgrack già tham lam đau khổ than vãn trước mỗi trận tuyết lở, cho đến tận ngày nay.

Bọn trẻ ngủ rất nhanh, rúc đầu vào nhau xung quanh đống lửa. Ta bế từng đứa về lều. Bộ tộc của chúng ta chẳng có gì nhiều để san sẻ, nhưng chúng ta không phải bọn Móng Vuốt Mùa Đông.

Đứa trẻ cuối cùng vẫn còn thức. Nó nằm nghiêng sang bên.

“Mấy câu chuyện đó không có thật,” nó lí nhí nói.

Đó là cậu bé mất chân. Chúng ta tìm thấy nó sống dở chết dở sau khi làng bị cướp phá. Chúng ta không thể bỏ mặc nó—ta không thể bỏ mặc nó—nên ta dùng vải băng bó vết thương, và vác nó lên vai.
“Cháu nghĩ chúng được bịa ra. Hoặc… thay đổi để giúp chúng ta dễ ngủ.”

“Câu chuyện thật ra ra sao là do chúng ta tin vào chúng,” ta nói và ngồi xuống bên cạnh.

“Có một vị thần tốt bụng, nhưng chẳng quan tâm đến chúng ta.”

Ta chầm chậm gật đầu. “Ta biết vì sao cháu nghĩ thế, nhưng không đúng đâu. Còn một câu chuyện nữa ta có thể kể cho cháu. Đây là câu chuyện cuối cùng bà ta kể cho ta trước khi ta trưởng thành. Bà muốn ta sẵn sàng, bởi nó không giống những câu chuyện khác. Nhưng ta nghĩ cháu đã thấy đủ nhiều để sẵn sàng rồi. Cháu nghĩ sao?”

Cậu bé gật đầu. Ta kéo nó lại gần và bắt đầu kể.